Gắn bi vào dương vật

Gắn bi vào dương vật nên hay không nên

Phương pháp gắn bi dương vật (còn gọi là đeo bi, cấy bi) là một can thiệp phẫu thuật trực tiếp đưa bi vào bên trong da dương vật, để tăng khoái cảm, tăng kích thước dương vật.

Gắn bi dương vật là gì?

Chàng trai trẻ và thấp bé là mặc cảm của nhiều người đàn ông có râu mạnh mẽ, họ coi đó là sự thấp kém và thiếu nam tính thực sự của một người đàn ông, đặc biệt là đối với những người thường xuyên Để cải thiện tình trạng này, nhiều người đề cập đến thông tin và không phải vậy. khó khăn cho họ để tìm cách cải thiện kích thước dương vật. Hiện nay, có nhiều phương pháp đang được tuyên truyền bởi nam giới để cải thiện vấn đề này.

Phương pháp gắn bi dương vật là một can thiệp phẫu thuật trực tiếp đưa bi vào bên trong da dương vật, để tăng khoái cảm, tăng kích thước dương vật.

Một số còn có quy trình xỏ dương vật, xỏ dương vật cũng là một thủ tục phẫu thuật, người ta sẽ ấn vòng vào da ở khu vực của bao quy đầu để tăng ma sát khi quan hệ tình dục khiến phụ nữ dễ dàng đạt được khoái cảm từ tình dục.

Làm thế nào để gắn bi an toàn vào dương vật

Gắn hoặc cài đặt một quả bóng là một thủ tục đơn giản được thực hiện trong một quy trình nghiêm ngặt để đảm bảo an toàn tuyệt đối và phải được thực hiện bởi các chuyên gia có kinh nghiệm và có tay nghề cao. Cách gắn quả bóng cho bé trai được thực hiện qua các bước sau:

Bước 1: Thực hiện kiểm tra thể chất cho nam giới, xác định xem dương vật có bị nhiễm các bệnh viêm nhiễm hay nó bị hư không? Sức khỏe của bệnh nhân có được đảm bảo để thực hiện phẫu thuật hay không

Bước 2: Các bác sĩ sẽ sử dụng một dụng cụ chuyên dụng để rạch vào dây thần kinh cương cứng của dương vật, sau đó gắn quả bi vào dương vật nam được đặt cụ thể hơn bên cạnh dây thần kinh cương cứng. .

Bước 3: Sau khi bạn hoàn thành việc thiết lập các viên bi cần thiết, bạn sẽ sử dụng các mũi khâu để khâu cẩn thận.

Bước 4: Khử trùng vết thương để tránh nhiễm trùng và băng bó, sau đó đưa bệnh nhân trở lại phòng hồi sức để nghỉ ngơi.

Trên đây là 4 bước nhỏ trong quá trình gắn bi vào bộ phận sinh dục nam ở mỗi bước đòi hỏi sự chăm sóc tỉ mỉ và cẩn thận từ các chuyên gia để đảm bảo an toàn mà không gây biến chứng cho bệnh nhân. .

Gắn bi vào dương vật có thể gây biến chứng gì?

Rất nhiều người đàn ông đã gắn bi thành công cảm thấy vô cùng hài lòng và hài lòng với phương pháp này. Sau khi phù hợp, đàn ông cảm thấy tự tin hơn nhiều trước khi đứng trước đối tác của họ. Tuy nhiên, nhiều người đeo khuyên, gắn bi nhằm mục đích để thỏa mãn bạn tình, nhưng bản thân đàn ông rất đau đớn và không đạt được sự thỏa mãn khi quan hệ.

Trong một số trường hợp, đối với phụ nữ chưa sinh con, âm đạo không đủ lớn, kích thước của dương vật và âm đạo đã gây tổn thương cho niêm mạc. Nhiễm trùng bắt đầu từ vết xước này dẫn đến nhiễm trùng phụ khoa.

Có nhiều trường hợp nam giới sau khi gắn bi, tự đâm vết thương bằng hoại tử dương vật, vì cơ thể coi bi, hoặc nhẫn là vật lạ xâm nhập, nên có cơ chế gây viêm, để loại bỏ dị vật.

Không chỉ vậy, khi thực hiện thủ thuật, có nhiều biến chứng nguy hiểm như sốc phản vệ khi sử dụng thuốc gây mê, gây mê, nhiễm trùng vết thương hoặc có mầm bệnh nguy hiểm như nhiễm trùng uốn ván do thủ thuật. Đảm bảo vô trùng.

Đeo khuyên là cách đơn giản nhất nhưng cũng có vấn đề về việc dây cương bị hỏng, gây ra chảy máu khi quan hệ tình dục.

Kết luận

Với các sự cố thường xuyên xảy ra ở trên, nó có thể ảnh hưởng đến nam giới và đối tác, sau này có thể là các biến chứng không thể đảo ngược gây ra tác dụng xấu. Vì vậy, cho dù bạn muốn tăng kích thước dương vật đến mức nào, nam giới cần cân nhắc trước khi quyết định thực hiện thủ thuật này.

https://dakhoaxadan.com/

tóp những địa chỉ khám nam khoa tốt ở Hà Nội

Đàn ông bị bệnh rất ngại đến bệnh viện công, đặc biệt là những bệnh khó nói như  yếu sinh lý  , xuất tinh sớm, bất lực, bệnh xã hội như lậu, mụn cóc sinh dục, giang mai.  https://infogram.com/top-10-dia-chi-kham-phu-khoa-uy-tin-tot-nhat-tai-ha-noi-1h7v4p7gn1nz4k0 Khoa khám nam Hà Nội tốt nhất ở  đâu? Đây là câu hỏi mà nhiều người đàn ông đặt ra khi không may mắc bệnh, nhiều bạn lo lắng vì có nhiều trường hợp cơ sở y tế không đủ tiêu chuẩn cũng như bác sĩ. Kinh nghiệm làm cho bệnh của bạn không chỉ tồi tệ hơn mà còn rất tốn kém. Nếu bạn đang ở trong hoàn cảnh như vậy hoặc có những câu hỏi tương tự, bạn không cần phải lo lắng nữa Phòng khám nam Thái Hà là lựa chọn số một cho bạn tại Hà Nội.

https://infogram.com/dia-chi-phong-kham-nam-khoa-uy-tin-o-ha-noi-1h9j6qllmz0y2gz

Bệnh nam  là sự kết hợp của các bệnh liên quan đến bộ phận sinh dục của bờm như bệnh bao quy đầu (hẹp bao quy đầu, viêm bao quy đầu, bao quy đầu   dài), xuất tinh sớm, quản lý sinh nở yếu, viêm tinh hoàn, mụn cóc sinh dục, bệnh giang mai. Những nguyên nhân như vệ sinh không sạch sẽ, cậu bé, một mối quan hệ không lành mạnh, tâm lý

Hầu hết những người đàn ông mắc các bệnh nam giới thường có nỗi sợ che giấu bệnh lý của họ. Bởi vì điều này, nó làm cho điều trị và điều trị khó khăn hơn. Ngoài ra, việc tìm kiếm một địa chỉ y tế nam uy tín cũng khiến nam giới mệt mỏi về chất lượng và danh tiếng ở các cơ sở hoàn toàn khác nhau.

https://infogram.com/kham-nam-khoa-o-dau-tphcm-top-10-phong-kham-nam-khoa-uy-tin-nhat-1hnp2778xyn82gq

TÌM KIẾM NAM KHÁM PHÁ KHOA HỌC LÀ GÌ? LÀM THẾ NÀO?

Một kỳ thi nam là quá trình kiểm tra thể chất, kiểm tra và kiểm tra các cơ quan ngoại sinh.

1. Khám thực thể: nam giới sẽ được kiểm tra các chỉ số của cơ thể như cân nặng, chiều cao, huyết áp Siêu âm bụng bụng để tìm ra bất kỳ dấu hiệu bất thường nào nếu có.

https://infogram.com/dia-chi-phong-kham-nam-khoa-uy-tin-tot-nhat-tai-tp-hcm-1h0r6r9nxvx36ek

2. Kiểm tra các cơ quan ngoài vùng sinh dục: là quá trình kiểm tra và đánh giá các bệnh liên quan đến cơ quan sinh dục như bệnh xã hội (mụn cóc sinh dục, lậu, giang mai và mụn rộp sinh dục). , viêm (viêm bao quy đầu, viêm tinh hoàn). Bởi vì các dấu hiệu sẽ được thể hiện một cách thân thương của cậu bé nhỏ tuổi, người, thông qua khu vực bìu, liếc, luống và lỗ sao của dương vật. 

3. Làm các xét nghiệm lâm sàng cần thiết: Khi khám nam, nam sẽ được chỉ định làm một số xét nghiệm máu, nước tiểu, tinh dịch để phát hiện các bệnh nguy hiểm như viêm gan b, HIV, mụn cóc sinh dục, lậu

Ngoài ra, xét nghiệm tinh dịch sẽ giúp nam giới biết họ có tinh dịch ổn định hay không, để khảo sát số lượng và chất lượng tinh trùng để họ có thể đánh giá khả năng sinh sản của nam giới.

đàn ông quan hệ tình dục đến bao nhiêu tuổi

Đàn ông có thể quan hệ tình dục đến bao nhiêu tuổi

 

Theo một nghiên cứu của Đại học Chicago về nhu cầu sinh lý của nam giới theo độ tuổi, ở tuổi 55, nam giới mong muốn có thể kéo dài đời sống tình dục thêm 15 năm nữa. Đối với phụ nữ, điều này sẽ ít hơn khoảng 11 năm. Trên thực tế, đời sống tình dục của những người đàn ông khỏe mạnh ở tuổi 55 có thể kéo dài thêm 5 – 7 năm nữa và đối với phụ nữ, con số này ít hơn khoảng 3-5 năm.

1. Nhu cầu sinh lý của nam giới theo độ tuổi

Theo nghiên cứu, đàn ông có nhiều khả năng kết hôn trẻ hơn nam giới và quan tâm đến đời sống tình dục. Nhu cầu sinh lý của nam giới theo độ tuổi  là khác nhau. Đối với nam giới ở độ tuổi 75 đến 85, số lượng bạn tình chiếm 72%, trong khi đối với phụ nữ cùng tuổi chỉ khoảng 40%. Hơn một nửa số phụ nữ cho rằng đời sống tình dục của họ là ổn và 11% trong số họ quan tâm đến tình dục. Đối với những người không có bạn tình từ 57 đến 85 tuổi, 57% nam giới quan tâm đến tình dục.

2. Đàn ông có khả năng quan hệ tinh dục đến bao nhiêu tuổi

đàn ông quan hệ tình dục đến bao nhiêu tuổi

đàn ông quan hệ tình dục đến bao nhiêu tuổi

Theo lời của Stacy Tessler Lindau, Phó giáo sư, bác sĩ sản khoa tại Đại học Chicago: Đàn ông quan tâm đến tình dục và chất lượng đời sống tình dục hơn phụ nữ, và theo thời gian, khoảng cách này ngày càng lớn. Nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng có một mối liên hệ giữa sức khỏe lão hóa và đời sống tình dục. Vì vậy  , bao nhiêu tuổi đàn ông thoát khỏi ham muốn  ở  đàn ông  ?

Nếu bạn cảm thấy sự ham muốn bị giảm sút có thể bạn đang gặp một số vấn đề về sức khỏe nam khoa. Hãy đến những địa chỉ khám nam khoa uy tín để khám và chuẩn đoán tình trạng sức khỏe ngay.

Lindau và cộng sự. Natalia Gavrilova tập trung vào hai nghiên cứu lớn. Đầu tiên là nghiên cứu quốc gia về cuộc sống thời trung cổ, liên quan đến 3.000 người trong độ tuổi từ 25 đến 74, hoàn thành vào năm 1996. Thứ hai là Dự án quốc gia về lão hóa và sức khỏe, Cuộc khảo sát được thực hiện bởi 3.000 người trong độ tuổi từ 57 đến 85 và hoàn thành vào năm 2006. Những người tham gia cung cấp thông tin về tình trạng hôn nhân, đánh giá chất lượng đời sống tình dục và tần suất giao hợp. Họ cũng được đánh giá về tình trạng sức khỏe tổng thể theo thang điểm: kém, trung bình, tốt, rất tốt hoặc xuất sắc.

Kết quả cho thấy đàn ông có ham muốn nhiều hơn và đời sống tình dục phong phú hơn phụ nữ. Sự khác biệt này thể hiện rõ nhất ở  nhóm tuổi từ 75 đến 85  , đối với nam là khoảng 40% và đối với nữ là khoảng 17%.

3. Tầm quan trọng của số liệu giới tính

đàn ông quan hệ tình dục đến bao nhiêu tuổi

đàn ông quan hệ tình dục đến bao nhiêu tuổi

Nghiên cứu cũng giới thiệu một biện pháp sức khỏe mới, chẳng hạn như  tuổi thọ của đời sống tình dục,  (tuổi thọ hoạt động tình dục) viết tắt là SALE, thời gian trung bình của đời sống tình dục. Đối với nam giới, BÁN thường ít hơn 10 năm so với tuổi thọ.

Chẳng hạn, đàn ông ở tuổi 30, đời sống tình dục kéo dài đến khoảng 35 tuổi và tuổi thọ của họ có thể lên tới 45 năm, bao gồm 10 năm cuối đời không có tình dục. Do đó, dự kiến ​​tỷ lệ nam giới ở độ tuổi này duy trì đời sống tình dục lên tới 78%.

Các tác giả kết luận rằng Ước tính tuổi thọ của đời sống tình dục là một biện pháp mới để dự đoán tình hình sức khỏe cộng đồng và nhu cầu của mọi người đối với  sức khỏe tình dục  . Đời sống tình dục của mọi người rất hữu ích cho các dịch vụ y tế công cộng, chuyên nghiệp và y tế.

Trong một bài luận, Giáo sư Patricia GoodSon từ Đại học Texas nói rằng nghiên cứu của Lindau và Gavrilova đã trình bày một quan điểm rất mới và đầy hy vọng. Giáo sư nghiên cứu cho chúng tôi nhiều hy vọng hơn, cư dân người Mỹ, mặc dù họ 55 tuổi, vẫn có thể có một cuộc sống hoạt động tình dục, điều này rất hứa hẹn, Giáo sư cho biết.

Giáo sư Goodson đã bổ sung nhiều câu hỏi chưa được trả lời về mối quan hệ giữa người già và đời sống tình dục, chẳng hạn như chất lượng tình dục và  các vấn đề sức khỏe của cộng đồng LGBT  . Những câu hỏi này là một lời nhắc nhở về những hạn chế của việc áp dụng khoa học vào nghiên cứu về sự phức tạp trong các mối quan hệ của con người và các giá trị văn hóa mà chúng ta chọn nghiên cứu, Giáo sư Goodson kết luận

viêm âm đạo

5 nguyên nhân gây viêm âm đạo phổ biến nhất

Âm đạo  là mô cơ và phần ống của cơ quan sinh dục nữ kéo dài từ âm hộ đến cổ tử cung. Bên ngoài của âm đạo được bao phủ một phần bởi một màng gọi là màng trinh, kết thúc bên trong cổ tử cung kết nối với âm đạo.

Âm đạo không chỉ đóng vai trò quan trọng trong hệ thống y tế mà còn thực hiện chức năng sinh sản nên có nhiều vấn đề nghiêm trọng. Hiện đã có vi khuẩn, ký sinh trùng và nấm có hại trong âm đạo. Khi tiếp xúc với môi trường thích hợp, chúng sẽ sinh sôi nảy nở và phát triển quá mức viêm cục bộ, dẫn đến phụ nữ bị viêm âm đạo.

Báo cáo nghiên cứu y khoa cho thấy  60%  phụ nữ trong độ tuổi sinh sản bị viêm âm đạo, hơn  65%  trường hợp tái phát sau điều trị,  30%  biến chứng với các bệnh phụ khoa khác và  20%  mất khả năng làm mẹ.

1. Triệu chứng viêm âm đạo

Viêm âm đạo bệnh   được đại diện bởi một trong các triệu chứng sau đây:

  • Dịch âm đạo lớn, màu trắng đục hoặc vàng.
  • Đôi khi có mủ và nó có mùi.
  • Đôi khi máu được trộn lẫn với đốt – ngứa âm hộ.
  • Đốt nặng, đôi khi có nước tiểu có máu.
  • Đau ở phần dưới cơ thể hoặc đau khi quan hệ.

Tham khảo ngay:

  • 10 địa chỉ phòng khám phụ khoa chữa viêm âm đạo uy tín nhất Hà Nội
  • 2. Nguyên nhân gây viêm âm đạo

    Có 5 nguyên nhân chính gây ra triệu chứng viêm âm đạo:

    • Tác động thông qua quan hệ tình dục:  quan hệ tình dục với người bị nhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục, hoặc quá bạo lực, quan hệ tình dục với nhiều người, sử dụng các thiết bị tình dục không sạch sẽ. ..
    • Điểm yếu của cơ thể:  Khi cơ thể có sức đề kháng yếu, môi trường âm đạo bị thay đổi để vi khuẩn có thể dễ dàng xâm nhập vào cơ thể và gây bệnh.
    • Rối loạn nội tiết tố  :  Khi phụ nữ mang thai, hoặc vào kỳ kinh nguyệt thường có hiện tượng rối loạn nội tiết tố, gây ra những thay đổi trong môi trường âm đạo, vi khuẩn xâm nhập và gây viêm.
    • Lạm dụng thuốc:  Thói quen dùng thuốc tránh thai, dùng quá nhiều kháng sinh cũng có thể gây viêm nhiễm bộ phận sinh dục. Vì những thuốc này làm mất cân bằng  pH âm đạo  và làm thay đổi môi trường âm đạo, vi khuẩn có hại có thể phát triển và gây bệnh.
    •  Vệ sinh không đúng cách : Vệ sinh   không đầy đủ, hoặc sử dụng xà phòng kích thích, thụt rửa âm đạo không đúng cách, dị ứng cũng sẽ gây  viêm âm đạo  .
    Viêm âm đạo nếu không được điều trị có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng
    Sử dụng tampon không đúng cách có thể dẫn đến viêm âm đạo

    3. Làm gì khi có dấu hiệu viêm âm đạo

    Khi có triệu chứng viêm âm đạo cần đi khám bác sĩ phụ khoa ngay để xác định nguyên nhân gây bệnh, tình trạng và điều trị kịp thời.

    Nếu các triệu chứng viêm âm đạo không được phát hiện và điều trị kịp thời, nó sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người phụ nữ

    • Tác động đến các hoạt động hàng ngày: Các  triệu chứng khó chịu ở khu vực riêng tư của Cameron, khiến phụ nữ muốn gãi, cào, thụt rửa liên tục, ảnh hưởng đến công việc, đời sống tình dục
    • Nguyên nhân một số bệnh phụ khoa nguy hiểm khác  : Kéo dài viêm âm đạo, vi khuẩn gây bệnh có thể xâm nhập vào sâu bên trong gây viêm các bộ phận khác:  vùng chậu  viêm  bệnh  ,  viêm niệu đạo  ,  nội mạc tử cung  …
    • Viêm âm đạo gây vô sinh ở phụ nữ:  Viêm âm đạo kéo dài trong một thời gian dài, việc thải khí gây ra rất nhiều tắc nghẽn ống dẫn trứng, ngăn ngừa trứng bị nhiễm trùng. không thể nhập vào nó => không thể thụ thai (vô sinh – vô sinh).
    • Nguy hiểm cho phụ nữ mang thai và ảnh hưởng đến thai nhi  Phụ nữ mang thai bị viêm âm đạo  có tỷ lệ sinh non, sảy thai, dị tật bẩm sinh hoặc chậm phát triển tâm thần cao hơn nhiều lần so với những phụ nữ bình thường khác.
    • Do đó, sự thay đổi trong khu vực tư nhân của người Hồi giáo và nhu cầu khám và điều trị y tế càng sớm càng tốt để tự tin hơn trong cuộc sống hôn nhân và đảm bảo khả năng sinh sản tốt nhất của người phụ nữ.

    https://infogram.com/10-dia-chi-phong-kham-phu-khoa-ngoai-gio-tai-tphcm-tot-nhat-1h8j4x5wjond2mv

Khám nam khoa

Dài bao quy đầu có sao không

Nếu bạn đang thắc mắc dài bao quy đầu có ảnh hưởng gì tới việc quan hệ không? hay dài bao quy đầu có quan hệ được không thì tất cả những thông tin đã được các bác sĩ của chúng tôi giải đáp trong bài viết dưới đây, mọi người cùng theo dõi nhé.

Bao quy đầu là gì?

Bạn có bao giờ tự hỏi  bao quy đầu dài là bao nhiêu? Bao quy đầu được coi là dài khi da bao quy đầu dài hơn bình thường, có thể dài hơn từ 1cm đến 2cm tùy theo hoàn cảnh ở mỗi người. Phần da thừa ở bao quy đầu này giúp nam giới dễ dàng đối mặt với tác hại trực tiếp ở bộ phận sinh dục như bao quy đầu, nhiễm trùng dương vật hoặc nặng nhất có thể là vô sinh.

Khám nam khoa

Trên thực tế, từ khi sinh ra, hầu hết đàn ông đều có  bao quy đầu  nhưng đến tuổi dậy thì, bao quy đầu dài có thể tự bong ra như bình thường mà không gây hại cho sức khỏe. Trong trường hợp nam giới không thể tự cởi quần áo bình thường, đó là một bệnh dài bao quy đầu, cần có sự can thiệp tích cực từ bên ngoài để hạn chế nguy hiểm cho dương vật của nam giới.

Nếu bạn là người trưởng thành và bạn vẫn thấy bao quy đầu dài ra, khi bạn cố gắng  lột bỏ bao quy đầu khiến dương vật của bạn bị đỏ, đau, đó là dấu hiệu của bệnh bao quy đầu dài. Khi thấy các triệu chứng như vậy, nam giới không nên bỏ bê mà cần đi khám bác sĩ nam để được điều trị kịp thời, bác sĩ phụ trách khám sẽ đề nghị phương pháp điều trị thích hợp.

Bao quy đầu có ảnh hưởng gì không?

Nhiều người bị tình trạng này và không biết bao quy đầu có ảnh hưởng gì không. Mặc dù bao quy đầu dài hạn không có tác động nghiêm trọng ngay lập tức đến sức khỏe của nam giới, nhưng nếu mất quá nhiều thời gian, nó chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh của cuộc sống hàng ngày. Một số vấn đề có thể bao gồm:

Dễ bị nhiễm trùng bộ phận sinh dục do bao quy đầu dài

Bao quy đầu dài hơn bình thường rất nhiều, đây là không gian cư trú lý tưởng cho vi khuẩn, vi trùng và bụi bẩn trong dương vật của nam giới. Vi khuẩn, bụi bẩn có thể đến từ không gian bên ngoài hoặc trong quá trình đại tiện hàng ngày của nam giới xâm nhập và tích tụ ở da thừa bao quy đầu. Theo thời gian, khi vi khuẩn sinh sôi mạnh mẽ, nó chắc chắn có thể gây ra nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, trong đó tồi tệ nhất có thể là ung thư dương vật.

Gây bất tiện trong sinh hoạt hàng ngày

Hầu hết những người đàn ông có bao quy đầu dài đều cảm thấy khó chịu và không thoải mái ở bộ phận sinh dục. Lý do là vì bao quy đầu dài sẽ luôn che kín đầu dương vật, ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt hàng ngày. Những nhu cầu cơ bản như đi vệ sinh hay quan hệ tình dục đều bị cản trở vì bao quy đầu dài hơn bình thường ở bộ phận sinh dục nam.

Bao quy đầu ức chế sự phát triển của dương vật

Bởi vì da thừa luôn luôn đóng kín với bao quy đầu, nó sẽ gây ra nhiều hạn chế và ức chế sự phát triển của kích thước dương vật. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến kích thước dương vật của người trưởng thành, đôi khi là rào cản tâm lý rất lớn đối với đàn ông khó vượt qua.

Vô sinh dễ bị vô sinh

Tình trạng lâu dài của bao quy đầu mà không được điều trị đầy đủ có thể dẫn đến bất lực – một căn bệnh có thể làm mất khả năng sinh sản bình thường ở những người đàn ông khỏe mạnh. Nếu không may cho bất lực xảy ra, đàn ông rất khó để cứu vãn tình hình. Do đó, để tránh hậu quả tồi tệ nhất, khi thấy tình trạng bao quy đầu kéo dài, nam giới nên đi khám bác sĩ nam càng sớm càng tốt.

Bao quy đầu có liên quan?

Bao quy đầu dài bao nhiêu với câu hỏi của nhiều người đàn ông tự hỏi liệu căn phòng có bị ảnh hưởng bởi vấn đề bao quy đầu dài không? Sự thật là, quan hệ tình dục sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều bởi tình trạng của bao quy đầu.

Khi bao quy đầu dài hơn bình thường, dương vật không thể cương cứng quá lâu, dễ gây ra xuất tinh sớm do sự nhạy cảm quá mức ở các dây thần kinh ở đây. Dẫn đến hạn chế khả năng xuất tinh bị ảnh hưởng, dần dần khiến bệnh nhân thường bị căng thẳng, lòng tự trọng thấp. Đôi khi lúng túng, thật khó để đưa cô ấy lên đỉnh và dần dần lo lắng về mỗi lần quay trở lại vì không muốn vợ hoặc người yêu của mình thiếu kiên nhẫn.

Hơn nữa, khi bạn có một bao quy đầu dài mà bạn có quan hệ tình dục, đặc biệt là khi cậu bé không sạch sẽ rất dễ gây nhiễm trùng cho bạn tình. Giới tính của những người có bao quy đầu đã rất khó khăn, nhưng nó cũng gây ra hậu quả cho sức khỏe của đối tác, đây là một vấn đề nguy cơ cao cần được ngăn chặn.

Làm gì khi thấy bao quy đầu dài?

Một cách để hạn chế nguy cơ  sức khỏe sinh lý nam giới  trong trường hợp bao quy đầu là loại bỏ phần da thừa để làm cho dương vật hoạt động bình thường.

– Sử dụng thuốc mỡ tại chỗ để giúp lột bao quy đầu: Hầu như mọi đứa trẻ đều có bao quy đầu dài vì khi sinh ra, bộ phận sinh dục không được phát triển đầy đủ. Tuy nhiên, khi bước vào độ tuổi 13-17 và vẫn gặp phải tình huống này, cha mẹ nên chọn phương án khắc phục tình trạng này cho con trai.

– Bao quy đầu: thường được áp dụng cho trường hợp bao quy đầu hẹp dài vì nó loại bỏ phần da thừa bao phủ đầu dương vật. Điều này thường được thực hiện bởi một bác sĩ lành nghề, khéo léo rút da thừa để lộ đầu dương vật, giúp quá trình sống hiệu quả.

– Phẫu thuật cắt bao quy đầu: Bao quy đầu được chỉ định cắt bỏ khi một người đàn ông thấy mình có bao quy đầu dài ở tuổi trưởng thành. Tại thời điểm này, chỉ phẫu thuật cắt bao quy đầu đảm bảo kết quả tốt. Đây chỉ là một cuộc phẫu thuật nhỏ, đàn ông không cần phải lo lắng nhưng bạn cần tìm một địa chỉ uy tín để có thể thực hiện thành công.

Hy vọng, qua bài viết này, đàn ông hiểu thêm về bao quy đầu dài và nó có ảnh hưởng gì đến bao quy đầu không? Mặc dù ban đầu chỉ là một bất thường nhỏ của cơ thể, nhưng theo thời gian, nếu không được can thiệp kịp thời, tình trạng bao quy đầu dài sẽ gây ra nhiều ảnh hưởng xấu đến sức khỏe sinh lý của nam giới. Bên cạnh đó, bạn tìm cho mình một  địa chỉ khám nam khoa uy tín  để điều trị bệnh lý hiệu quả!

Trẻ đi ngoài phân màu vàng

Trẻ đi ngoài phân nhão màu vàng( nhu động ruột màu vàng) có sao không?

Nhu động ruột màu vàng, nhão là hoàn toàn bình thường đối với trẻ bú mẹ. Tuy nhiên, vẫn có nhiều sắc thái bình thường khi nói đến em bé ị. Dưới đây là hướng dẫn từng màu cho trẻ sơ sinh:

  • Màu đen hoặc xanh đậm. Sau khi sinh, nhu động ruột đầu tiên của bé có màu đen và hắc ín. Loại phân của em bé này được gọi là phân su.
  • Vàng-xanh. Khi em bé bắt đầu tiêu hóa sữa mẹ, meconium được thay thế bằng nhu động ruột màu vàng xanh.
  • Màu vàng. Trẻ sơ sinh bú sữa mẹ thường có nhu động ruột, lỏng, trông giống như mù tạt nhẹ.
  • Vàng hoặc nâu. Nếu bạn cho bé ăn sữa công thức, nhu động ruột của bé có thể trở nên vàng hoặc nâu với sắc xanh. Chúng sẽ cứng hơn một chút so với nhu động ruột của con bú, nhưng không cứng hơn bơ đậu phộng.

Khi bé bắt đầu ăn thức ăn đặc, nhu động ruột của bé có thể chứa nhiều màu sắc khác nhau.

Nếu bạn lo lắng về màu sắc hoặc tính nhất quán của nhu động ruột của bé, hãy liên hệ với bác sĩ của bé. Điều này đặc biệt quan trọng nếu nhu động ruột của bé là:

  • Vẫn đen vài ngày sau khi sinh.
  • Đỏ hoặc đẫm máu
  • trắng
  • Đột nhiên thường xuyên hơn và chảy nước bất thường
  • Ít thường xuyên hơn những gì bình thường đối với em bé của bạn hoặc luôn khó khăn, khô và khó vượt qua

Khi bạn liên hệ với bác sĩ, hãy chuẩn bị để mô tả nhu động ruột của bé, bao gồm màu sắc, tính nhất quán, khối lượng và tần suất. Bạn cung cấp càng nhiều chi tiết, bác sĩ càng có thể giúp bạn xác định những gì bình thường đối với em bé của bạn – và khi nào cần điều trị.

Tham khảo tại: https://bekhoe365.com/

xét nghiệm adn

Có thể xét nghiệm ADN huyết thống trước khi em bé được sinh ra không

Xét nghiệm DNA quan hệ cha con trước khi sinh có thể xác định xem một người đàn ông là cha trước khi sinh. Công nghệ y học hiện đại ngày càng phát triển, ngoài siêu âm thai nhi chính xác, xét nghiệm DNA máu cũng được thực hiện sớm. Nếu bạn muốn làm điều đó, ngay từ tuần thứ 14 của thai kỳ, bạn có thể yêu cầu bác sĩ hỗ trợ mong muốn này. Hiện nay, xét nghiệm DNA trước khi sinh thường được thực hiện bằng một trong hai phương pháp: chọc ối và xét nghiệm máu trước khi sinh.

1. Khi nào phụ nữ có thể làm xét nghiệm DNA?

Xét nghiệm quan hệ cha con trước khi sinh là một chủ đề nhạy cảm bởi vì các vấn đề đạo đức bao gồm các rủi ro của xét nghiệm xâm lấn. Nhiều bác sĩ từ chối thực hiện xét nghiệm quan hệ cha con trước khi sinh, đặc biệt nếu xác nhận danh tính của người cha là lý do duy nhất để thực hiện xét nghiệm.

Nếu xét nghiệm quan hệ cha con trước khi sinh được thực hiện và kết quả xét nghiệm không như mong đợi, người phụ nữ có thể không muốn tiếp tục mang thai. Nếu bạn đang mang thai và muốn xem xét việc làm cha trước khi sinh, hãy nói chuyện với bác sĩ hoặc nữ hộ sinh trước khi thực hiện. Họ có thể giúp phụ nữ mang thai cân nhắc các vấn đề liên quan, cũng như tư vấn về những rủi ro cho mẹ và thai nhi.

Khoảng thời gian thực hiện xét nghiệm DNA trong thai kỳ phụ thuộc vào loại xét nghiệm mà người phụ nữ chọn, nhưng thường có thể được thực hiện sớm nhất là  8 tuần  mà không có bất kỳ rủi ro nào đối với mẹ hoặc em bé.

Phụ nữ nên chọn xét nghiệm DNA trước sinh không xâm lấn để đảm bảo không có nguy cơ sảy thai hoặc bất kỳ nguy cơ nào khác cho bản thân hoặc em bé đang phát triển. Các phương pháp xâm lấn đòi hỏi thai nhi phải phát triển nhiều hơn trước khi có thể thực hiện.

2. Các loại xét nghiệm DNA trước khi sinh

Có ba loại xét nghiệm DNA có thể được thực hiện trong khi mang thai; Xét nghiệm DNA trước sinh không xâm lấn đối với NIPT, chọc ối và sinh thiết đáy chậu hoặc sinh thiết bộ gõ (CVS – Chorionic Villus Sampling). Xét nghiệm thai nhi để phát hiện Hội chứng Down cũng có thể được thực hiện bằng cả ba phương pháp.

  • Xét  nghiệm  DNA tiền sản không xâm lấn NIPT  : DNA thu thập từ mẹ và cha cần được xác định bằng máu. DNA sau đó được phân tích và so sánh với DNA của em bé được tìm thấy trong máu của người mẹ.
  • Chọc dò ối  : Đây là xét nghiệm DNA xâm lấn được thực hiện trong khoảng từ 14 đến 20 tuần. Phụ nữ mang thai sẽ được chọc ối theo hướng dẫn của siêu âm, nước ối sẽ được hút qua thành bụng bằng kim rất nhỏ. , sau đó mẫu nước ối này sẽ được thực hiện các xét nghiệm DNA.

Thông thường lượng nước ối cần thu thập là 15-30 ml. Cơ thể bạn sẽ tái tạo lượng nước ối được loại bỏ và em bé của bạn sẽ không bị thiếu nước ối sau khi thử nghiệm. Một số phụ nữ sẽ bị đau bụng nhẹ sau khi chọc ối, bác sĩ sẽ cho uống thuốc và bà bầu nên nghỉ ngơi vào ngày chọc ối. Ngày hôm sau cơn đau bụng sẽ giảm. Nguy cơ và nguy cơ quan trọng nhất của việc chọc ối là nó có thể gây sảy thai, vỡ ối và nhiễm trùng. Theo các nghiên cứu gần đây,  nguy cơ sảy thai khi chọc ối  là 1/500 (có nghĩa là cứ 500 phụ nữ mang thai bị chọc ối thì sẽ có 1 người bị sảy thai).

  • Sinh thiết lẫn nhau  hoặc sinh thiết  đan xen  : Thử nghiệm này được thực hiện từ tuần thứ 10 đến tuần thứ 13. Sinh thiết nhau thai là lấy một lượng nhỏ mô nhau thai từ tử cung. Mẫu ngực sẽ được lấy bằng kim hoặc ống qua đường bụng. Trong thủ tục này, người phụ nữ sẽ được gây mê để giảm đau và giảm căng thẳng. Sau thủ thuật, phụ nữ có thể bị chảy máu âm đạo nhẹ. Nguy cơ sảy thai của thủ tục là khoảng 1/500.

3. Độ chính xác của xét nghiệm DNA trước khi sinh

Kết quả xét nghiệm DNA trước sinh không xâm lấn khác nhau tùy thuộc vào chất lượng mẫu để xét nghiệm máu DNA.

Hầu hết các kết quả NIPT là chính xác 99,9%. Độ chính xác của xét nghiệm DNA chọc ối là chính xác khoảng 99% để xét nghiệm các em bé  mắc Hội chứng Down  và trisomy 18 và 98% cho các khuyết tật ống thần kinh. Xét nghiệm sinh thiết lồng ngực hoặc sinh thiết lồng ngực để phát hiện các rối loạn di truyền và bất thường với nhiễm sắc thể và có tỷ lệ chính xác cao từ 98 đến 99%.

Các chuyên gia cho rằng để xác định máu của trẻ trước khi sinh, chọc ối để xét nghiệm DNA thỏa đáng hơn. Bản chất của chọc ối là chảy máu giữa mẹ và em bé và yếu tố duy nhất có thể gây nguy hiểm cho cả bà bầu và thai nhi là người mẹ có nhóm máu Rh. Nếu người mẹ có loại máu này dễ bị sảy thai, không nên thực hiện chọc ối.

4. Thời gian kết quả xét nghiệm DNA DNA trước khi sinh

Bởi vì có 3 loại xét nghiệm tiền sản DNA, thời gian cần thiết để có kết quả là rất khác nhau đối với mỗi loại. Thường mất khoảng 3 đến 12 tuần để xem kết quả.

Đối với chọc ối, có thể mất ba ngày đến ba tuần để xem kết quả. Nếu chỉ có một loại DNA hoặc xét nghiệm máu là bất thường, kết quả thường sẽ nhanh hơn so với nếu người phụ nữ thử nghiệm nhiều vấn đề khác nhau. Có khả năng kết quả có thể mất nhiều thời gian hơn nên người phụ nữ không quá lo lắng. Đôi khi có thể mất một thời gian để các tế bào phát triển để có kết quả chính xác.

Kết quả  sinh thiết lồng ngực  hoặc sinh thiết của sinh thiết nhau thai có thể có sẵn ngay lập tức hoặc trong vòng năm đến 10 ngày. Nếu một phụ nữ muốn kiểm tra một rối loạn cụ thể, cô ấy có thể chờ thêm một thời gian nữa.

Ngoài nhu cầu xét nghiệm gen trước khi sinh để xác định mối quan hệ huyết thống, nhiều người muốn sử dụng dịch vụ xét nghiệm gen trước khi sinh để xác định nguy cơ thai nhi mắc các bệnh di truyền để điều trị kịp thời. Nhiều bệnh viện hiện đang áp dụng phương pháp này để xác định nhiều bệnh di truyền nhằm điều trị kịp thời, ngay cả sau khi em bé chào đời.

Tham khảo về xét nghiệm ADN  tại https://hibacsi.net/xet-nghiem-adn/

cao ngựa bạch

Tác dụng của ngựa trắng với sức khỏe

Theo y học cổ truyền, chiết xuất xương ngựa trắng là một loại thuốc quý có tác dụng bổ tuyệt vời chỉ được xếp sau xương hổ. Ngoài sức khỏe nói chung, tủy xương ngựa trắng còn có tác dụng chữa bệnh đặc hiệu với một số bệnh cụ thể như viêm khớp, bệnh cột sống thắt lưng,

Theo y học cổ truyền, chiết xuất xương ngựa trắng là một loại thuốc quý có tác dụng bổ tuyệt vời chỉ được xếp sau xương hổ. Ngoài sức khỏe nói chung, chiết xuất xương ngựa trắng còn có tác dụng chữa bệnh đặc hiệu với các tình trạng cụ thể như viêm khớp, bệnh cột sống thắt lưng, hen phế quản và bổ dưỡng cho trẻ em còi xương. ..

cao ngựa bạch

Ngựa thường sinh 1 con sau khi mang thai từ 335 – 340 ngày (ngựa vằn trong khoảng từ 370 – 375 ngày)

Được 2,5 đến 4,5 tuổi, chú ngựa con hoàn toàn trưởng thành, có thể rời khỏi đàn, thành lập một nhóm mới và đạt tầm vóc tối đa.

Lớn nhất là Shire ở Anh, cao trung bình 170 – 190 cm, nặng 700 – 1.100 kg, trong khi nhỏ nhất là Falabella ở Argentina chỉ cao 45 – 80 cm.

Tuổi thọ của một con ngựa rất khác nhau, thường là từ 18 đến 40 năm, trong đó dài nhất là 60 năm

Số lượng và phân phối:

– Trên thế giới hiện nay có hơn 100 loài ngựa, tổng cộng khoảng 74 triệu

– Phân phối: Nhiều nhất ở châu Mỹ – 38,4 triệu, tiếp theo là châu Á – 19,2 triệu, châu Âu – 10,3 triệu, châu Phi – 6,9 triệu, châu Đại Dương – 0,8 triệu

– Riêng Việt Nam: 138 nghìn.

Ngựa trắng và ngựa trắng

– Ngựa trắng có giá trị thứ hai sau Hổ, vì vậy chúng có nguy cơ bị tuyệt chủng

– Trang trại ngựa Ba Văn nghiên cứu để duy trì giống, Bạch Mã chỉ chiếm 20% – 25% tổng số giống.

– Hiện nay, Hội thú y Việt Nam đã xây dựng cơ sở chăn nuôi 40-50 con ngựa trắng tại xã Yên Mỹ – Thành Tri – Hà Nội

Kinh nghiệm của BS. Hoàng Sam – Viện Y học bản địa Việt Nam, áp dụng Ngựa trắng cho Khoang Saman trong việc cải thiện sức khỏe và trí thông minh của người cao tuổi trong thời kỳ trầm cảm, mang lại giá trị cao; Sự kết hợp này dựa trên nguyên tắc: ngựa bạch Cao thúc đẩy sức khỏe nói chung, Saman đá vào não – tuyến yên – trục sinh dục giúp cải thiện năng lực não và chức năng thận.

Theo Viện nhân giống quốc gia, Ngựa Trắng chỉ là Ngựa Trắng khi nó thỏa mãn:

1. Mắt có mây trắng.

2. Xung quanh con ngươi là vòng lửa đồng màu

3. Khi mặt trời đứng, bóng mắt bị mù

4. Trời tối để đón ánh sáng đỏ như lửa

5. Lỗ tự nhiên (bộ phận sinh dục, mũi, mõm) có màu đỏ hồng, 4 chân có sừng ngà

6. Và thời gian của Chó là (20h) sử dụng một ánh sáng đặc biệt để chiếu sáng đôi mắt của con ngựa trắng.

Con ngựa trắng thiếu một trong những điều kiện trên được gọi là Ngựa Vàng vì nó là con lai F1 giữa Ngựa Trắng và Ngựa Màu.

1. Ngựa trắng có tác dụng cao với bệnh xương:

– Trẻ mọc xương nhiều, xương hủy ít; tái hấp thu xương ở tuổi vị thành niên và tăng sinh xương cân bằng; Người cao tuổi tăng ít phá hủy nhiều nên loãng xương, xương yếu, giòn

– Cao ngựa Bạch có tác dụng tăng sức khỏe xương và tăng cường xương cho bệnh loãng xương sau mãn kinh và người cao tuổi

– Chống trẻ em còi xương, suy dinh dưỡng

2. Ngựa trắng bị viêm khớp:

– Sụn khớp chủ yếu bao gồm axit sunfuaric thoái hóa, ăn mòn, mịn màng.

White Horse Bone Bone là nguồn tối ưu của chất này để phục hồi viêm xương khớp

– Chú ý cao để không bị viêm khớp

3. Cao ngựa Bạch mắc chứng suy nhược trắng, người sau này đã thức dậy:

– Người ốm và suy nhược làm giảm quá trình đồng hóa và dị hóa

– Trong xương ngựa trắng có nhiều axit amin không thể thay thế và chất xúc tác mạnh cho quá trình đồng hóa. Do đó, ngựa trắng cao tốt cho người suy nhược

4. Ngựa cao với trẻ chậm phát triển:

– Chứng chỉ bảo trì tích cực là bảo trì xỉ, phát triển, bảo trì, bảo trì, bảo trì ngôn ngữ

– Năm chức năng chính chủ yếu là do thận bị suy yếu

– Cao ngựa từ ngựa trắng, dương, thận và thận nên chữa cho trẻ chậm phát triển

5. Bị hen suyễn và bệnh phổi

6. Các bệnh về co thắt và viêm của cấu trúc đường thở của đường thở mãn tính gây ra suy hô hấp, hen suyễn.

7. Theo kinh nghiệm của y học dân gian cao, White Horse phổi, hoạt động tốt nhất với bệnh hen suyễn và viêm phế quản mãn tính, hen suyễn của người già.

Cách sử dụng, liều cao của White Horse

– Cách thông thường: Ngựa trắng băm nhỏ cho vào tô, cho vào 1 thìa mật ong và cơm trắng, khi cơm lên cao và mật ong tan hoàn toàn, đánh cho ăn.

– Có thể ngâm trong rượu gà, hầm chim bồ câu, hoặc nhai nuốt

– Liều dùng tùy theo trọng lượng cơ thể, trẻ em 1-2g / 24h, người lớn sử dụng 5-10g / 24h

– Mỗi đợt nên sử dụng tối thiểu 100g, sử dụng 3 đợt, cách nhau 15 ngày hiệu quả lâu dài.

– Sử dụng kéo dài không có tác dụng không mong muốn

Tham khảo thông tin về cao ngựa tại caongua.com.vn

viêm âm đạo

Bệnh viêm âm đạo: Triệu chứng, chuẩn đoán và cách điều trị

Viêm âm đạo là một trong những bệnh lý phụ khoa thường gặp nhất, chúng chiếm đến 90% các bệnh lý viêm nhiễm phụ khoa và chị em phụ nữ có thể bị bệnh ít nhất một lần trong đời. Viêm âm đạo tưởng chừng đơn giản, nhưng nó lại không hề đơn giản, bởi những biến chứng về lâu dài của chúng có thể ảnh hưởng đến “thiên chức” làm mẹ của người phụ nữ cũng như thậm chí có thể gây ung thư.

Viêm âm đạo là gì?

Viêm âm đạo là tình trạng viêm nhiễm xảy ra tại âm đạo, hay tình trạng âm đạo bị các tác nhân gây hại tấn công. Chúng ta biết rằng, trong môi trường âm đạo luôn có sự sinh sống của rất nhiều các tác nhân có cả các tác nhân gây hại và cả những loại tác nhân vô hại. Chính điều này tạo ra sự cân bằng, độ pH phù hợp cho âm đạo. Tuy nhiên, khi xảy ra sự mất cân bằng thì những hại khuẩn có xu hướng phát triển mạnh hơn gây viêm.

viêm âm đạo

Nguyên nhân gây viêm âm đạo ở chị em

Nguyên nhân viêm âm đạo bắt nguồn từ rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Đôi khi bệnh viêm âm đạo đến chỉ vì những thói quen sinh hoạt hằng ngày, sự mất cân bằng nội tiết trong cơ thể, nhưng đôi khi nó lại từ những nguyên nhân khác trong cơ thể. Một số thói quen sinh hoạt hằng ngày như vệ sinh không đúng cách, sử dụng giấy vệ sinh không đạt tiêu chuẩn, thức quá khuya,…hay đơn giản là do việc căng thẳng về mặt tâm lý diễn ra trong thời gian dài, hệ miễn dịch trong cơ thể bị suy giảm, nguồn nước không đảm bảo,…

Những biểu hiện viêm âm đạo thường gặp

Những biểu hiện viêm âm đạo khá điển hình đó là tình trạng ngứa âm đạo, khí hư ra nhiều, có mùi hôi khó chịu. Một số trường hợp người bệnh còn có một số biểu hiện đau, xuất huyết khi giao hợp. Tùy thuộc vào tác nhân gây bệnh mà biểu hiện viêm âm đạo khác nhau như:

+ Viêm âm đạo do nấm Candida: người bệnh có biểu hiện khí hư ra nhiều màu trắng đục, dính bám từng mảng vào hai bên mép âm đạo (điều này có thể nhìn thấy khi vệ sinh vùng kín vào cuối ngày). Mùi hôi âm đạo rất khó chịu. Đặc biệt, chị em có thể bị ngứa âm đạo ở nhiều mức độ khác nhau, ngứa nhiều về đêm.

+ Viêm âm đạo do trùng roi  Trichomonas: người bệnh có biểu hiện khí hư ra nhiều bất thường khiến cho âm đạo luôn ẩm ướt, khí hư có thể có bọt, loãng màu vàng xanh, mùi hơi tanh và hôi. Một số người bệnh cũng có thể bị ngứa âm đạo

+ Viêm âm đạo do tạp khuẩn: biểu hiện chủ yếu là tình trạng khí hư màu trắng ra nhiều có mùi hôi, đặc biệt là sau khi quan hệ. Kèm theo các biểu hiện khác như ngứa âm đạo, kích ứng vùng bộ phận sinh dục. Cũng có một số trường hợp chị em mắc bệnh mà không có biểu hiện điển hình nào.

Những nguy hại khi bị viêm âm đạo

Viêm âm đạo đơn thuần chúng chỉ gây ra sự khó chịu nhất thời, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống cũng như chất lượng đời sống tình dục. Tuy nhiên, về lâu dài, nếu như không được khám, chữa trị kịp thời đúng cách và triệt để chúng có thể tạo cơ hội cho các tác nhân gây hại phát triển lan ngược dòng đến tử cung, cổ tử cung, buồng trứng, vòi trứng gây viêm đến các bộ phận này. Khi viêm đến vòi trứng chúng có thể gây tắc nghẽn vòi trứng gây vô sinh ở nữ giới. Ngoài ra, viêm nhiễm ở âm đạo khiến cho độ pH trong âm đạo bị thay đổi chúng có thể ngăn cản tinh trùng và trứng gặp nhau dẫn đến khó thụ thai

Cách  nào điều trị viêm âm đạo hiệu quả

Cách điều trị viêm âm đạo hiệu quả nhất đó là đi khám chuyên khoa và nghe lời căn dặn của các bác sĩ. Việc điều trị viêm âm đạo cần căn cứ vào các nguyên nhân gây bệnh, tác nhân gây bệnh, mức độ bệnh,…để làm được điều đó, các bác sĩ cần thăm khám lâm sàng, cũng như thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng. Điều trị viêm âm đạo hiệu quả nhất hiện nay đó chính là dùng thuốc (đặt trực tiếp vào âm đạo, tiêm, truyền,…) cùng các biện pháp hỗ trợ khác để tiêu viêm hiệu quả như dùng thuốc Đông y giúp nâng cao sức đề kháng, hỗ trợ tiêu viêm hiệu quả, ngăn ngừa tái phát.

Lưu ý khi viêm âm đạo trong thời gian mang thai

Trong thời gian mang thai nếu phát hiện hoặc nghi ngờ mình bị viêm âm đạo thì chị em nên chủ động đi khám chuyên khoa để được chữa trị sớm. Trẻ sơ sinh, sinh ra bởi người mẹ bị viêm âm đạo do nấm, khi sinh qua đường âm đạo, có thể bị dính nấm vào niêm mạc miệng gây viêm niêm mạc miệng hoặc viêm da do nấm. Nếu trường hợp bé đã bị suy dinh dưỡng trong tử cung hoặc sinh non tháng, đề kháng yếu, có thể gây viêm phổi do nấm, nhưng hiếm gặp. Viêm âm đạo trong thời kỳ mang thai thường gặp, nhưng rất nguy hiểm đến sức khỏe của chị em. Do vậy, khi có những biểu hiện của bệnh chị em cần đến những cơ sở y tế chuyên khoa để khám và điều trị, không nên chần chừ hoặc tự điều trị. Đặc biệt, tránh tự ý điều trị bằng thuốc uống, đặt thuốc vì thuốc sẽ gây hại cho thai nhi. Trong quá trình điều trị,  chị em cần tuyệt đối tuân thủ theo sự hướng dẫn của bác sĩ, dùng thuốc đúng và đủ liều.

Câu hỏi thường gặp khi bị viêm âm đạo

+ Thời  gian chữa viêm âm đạo lâu không?

Thời gian chữa viêm âm đạo phụ thuộc vào tình trạng của từng người, mức độ bệnh ở từng người, nguyên nhân gây bệnh. Thông thường các bác sĩ sẽ chỉ định dùng thuốc kháng sinh, kết hợp thuốc đặt trong vòng 5-7 ngày.

+ Viêm âm đạo nên ăn gì và kiêng ăn gì

Khi bị viêm âm đạo chị em nên ăn nhiều rau xanh, hoa quả tươi, sữa chua, tỏi,…vì các loại này có chứa nhiều vitamin, các lợi khuẩn, giúp nâng cao sức đề kháng, tăng cường khả năng kháng khuẩn cho cơ thể. Ngoài ra, chị em cũng nên kiêng ăn các chất kích thích, đồ ăn cay nóng, hải sản,…vì những loại thực phẩm này có thể làm tăng kích ứng ở âm đạo, khiến cho âm đạo trở nên nóng, dễ gây sưng, ngứa hơn

+ Lưu ý trong sinh hoạt khi bị viêm âm đạo

Khi điều trị viêm âm đạo, chị em nên chú ý kiêng quan hệ tình dục, giữ vệ sinh vùng bộ phận sinh dục sạch sẽ, mặc quần áo rộng rãi, không nên thụt rửa âm đạo,…

Khi phát hiện những biểu hiện bất thường ở vùng kín hay nghi ngờ mình bị viêm âm đao, bạn hãy tới Phòng khám đa khoa quốc tế Hà Nội để được thăm khám, và có phương pháp điều trị kịp thời. Phòng khám của chúng tôi với cơ sở vật chất khang trang, sạch đẹp, cùng với các trang thiết bị hiện đại, nhân viên y tế phục vụ tận tình, đội ngũ bác sĩ giỏi sẽ thực hiện thăm khám và chữa trị giúp khắc phục tình trạng của bạn một cách tốt nhất. Ngoài ra, trước khi đến khám chữa bệnh, người bệnh có thể chủ động đặt lịch hẹn khám trực tuyến hoặc gọi điện đến số điện thoại 0969 668 152 (tư vấn và đặt lịch hẹn khám miễn phí).

Địa chỉ: Phòng khám đa khoa quốc tế Hà Nội-152 Xã Đàn – Đống Đa – Hà Nội

singulair-4mg

Singulair 4mg: Công dụng, liều dùng, chỉ định

Thành phần

Hoạt chất chính:

Mỗi viên nén bao phim 10mg chứa 10.4mg montelukast natri có tương đương phân tử với 10.0mg gốc acid tự do. Mỗi viên nhai 5mg chứa 5.2mg montelukast natri có tương đương phân tử với 5.0mg gốc acid tự do. Mỗi viên nhai 4mg chứa 4.16mg montelukast natri tương đương phân tử với 4.0mg gốc acid tự do.

Tá dược:

Mỗi viên nén bao phim 10mg chứa các tá dược sau: microcrystalin celulose, lactose monohydrat, croscarmelose natri, hydroxypropylcelulose và magnesi stearat. Áo bao phim chứa: hydroxypropylmethylcelulose, hydroxypropylcelulose, titan dioxyd, oxyd sắt đỏ, oxyd sắt vàng và sáp carnauba.

Mỗi viên nhai 4mg và 5mg chứa các tá dược sau: manitol, microcrystalin celulose, hydroxypropylcelulose, oxyd sắt đỏ, croscarmelose natri, vị dâu, aspartam và magnesi stearat.

Công dụng (Chỉ định)

SINGULAIR được chỉ định cho người bệnh lớn tuổi và trẻ em trên 6 tháng tuổi để dự phòng và điều trị hen phế quản mạn tính, bao gồm dự phòng cả các triệu chứng hen ban ngày và ban đêm, điều trị người hen nhạy cảm với aspirin, và dự phòng cơn thắt phế quản do gắng sức.

SINGULAIR được chỉ định để làm giảm các triệu chứng ban ngày và ban đêm của viêm mũi dị ứng (viêm mũi dị ứng theo mùa cho người lớn và trẻ em từ 2 năm tuổi trở lên, và viêm mũi dị ứng quanh năm cho người lớn và trẻ em từ 6 tháng tuổi trở lên).

Liều dùng

Dùng SINGULAIR mỗi ngày một lần. Để chữa hen, cần uống thuốc vào buổi tối. Với viêm mũi dị ứng, thời gian dùng thuốc tùy thuộc vào nhu cầu của từng đối tượng.

Với người bệnh vừa hen vừa viêm mũi dị ứng, nên dùng mỗi ngày một liều, vào buổi tối.

Người lớn, từ 15 tuổi trở lên bị hen và/hoặc viêm mũi dị ứng:

Liều cho người từ 15 tuổi trở lên là mỗi ngày một viên 10mg.

Trẻ em 6 – 14 năm tuổi bị hen và/hoặc viêm mũi dị ứng:

Liều cho trẻ em 6 – 14 năm tuổi là mỗi ngày một viên nhai 5mg.

Trẻ em 2 – 5 năm tuổi bị hen và/hoặc viêm mũi dị ứng:

Liều cho trẻ em 2 – 5 năm tuổi là mỗi ngày một viên nhai 4mg hoặc 1 gói 4mg cốm hạt để uống.

Trẻ em từ 6 tháng tới 2 năm tuổi bị hen và/hoặc viêm mũi dị ứng quanh năm:

Liều cho trẻ em 6 tháng đến 2 năm tuổi là mỗi ngày một gói 4mg cốm hạt để uống.

Cách dùng cốm hạt để uống

Cốm hạt SINGULAIR để uống có thể cho trực tiếp vào lưỡi hoặc vào miệng, rắc vào một thìa thức ăn mềm (ví dụ, nước sốt tảo), với nhiệt độ phòng, hoặc hòa tan trong một thìa cà phê (5ml) sữa mẹ hoặc dung dịch nuôi dưỡng trẻ, ở nhiệt độ phòng. Ngay trước khi dùng mới được mở gói thuốc. Sau khi mở gói thuốc, toàn bộ liều SINGULAIR cốm hạt phải được pha như trên và dùng ngay lập tức (trong vòng 15 phút). Khi đã trộn với thức ăn hoặc với sữa mẹ, dùng dịch nuôi dưỡng trẻ, không được giữ để dùng cho lần sau. Cốm hạt SINGULAIR không được pha vào các dịch khác, ngoài sữa mẹ và dung dịch nuôi dưỡng trẻ. Tuy nhiên, sau khi uống thuốc, thì có thể uống các dịch khác.

Khuyến cáo chung

Hiệu lực điều trị của SINGULAIR dựa vào các thông số kiểm tra hen sẽ đạt trong một ngày. Có thể uống viên nén, viên nhai và cốm hạt SINGULAIR cùng hoặc không cùng thức ăn. Cần dặn người bệnh tiếp tục dùng SINGULAIR mặc dù cơn hen đã bị khống chế, cũng như trong các thời kỳ bị hen nặng hơn.

Không cần điều chỉnh liều cho bệnh nhi trong từng nhóm tuổi, cho người cao tuổi, người suy thận, người suy gan nhẹ và trung bình, hoặc cho từng giới tính.

Điều trị SINGULAIR liên quan tới các thuốc chữa hen khác

SINGULAIR có thể dùng phối hợp cho người bệnh đang theo các chế độ điều trị khác.

Giảm liều các thuốc phối hợp:

Thuốc giãn phế quản: Có thể thêm SINGULAIR vào chế độ điều trị cho người bệnh chưa được kiểm soát đầy đủ chỉ bằng thuốc giãn phế quản. Khi có chứng cớ đáp ứng lâm sàng, thường sau liều đầu tiên, có thể giảm liều thuốc giãn phế quản nếu dung nạp được.

Corticosteroid dạng hít: Cùng dùng SINGULAIR mang thêm lợi ích điều trị cho người bệnh đang dùng corticosteroid dạng hít. Có thể giảm liều corticosteroid nếu dung nạp được. Tuy nhiên, liều corticosteroid phải giảm dần dần dưới sự giám sát của bác sỹ. Ở một số người bệnh, liều lượng corticosteroid dạng hít có thể rút khỏi hoàn toàn. Không nên thay thế đột ngột thuốc corticosteroid dạng hít bằng SINGULAIR.

Không sử dụng trong trường hợp sau (Chống chỉ định)

Quá mẫn cảm với bất kỳ thành phần nào của thuốc.

Lưu ý khi sử dụng (Cảnh báo và thận trọng)

Chưa xác định được hiệu lực khi uống SINGULAIR trong điều trị các cơn hen cấp tính. Vì vậy, không nên dùng SINGULAIR các dạng uống để điều trị cơn hen cấp. Người bệnh cần được dặn dò dùng cách điều trị thích hợp sẵn có.

Có thể phải giảm corticosteroid dạng hít dần dần với sự giám sát của bác sỹ, nhưng không được thay thế đột ngột corticosteroid dạng uống hoặc hít bằng SINGULAIR.

Đã có báo cáo về các tác dụng thần kinh – tâm thần ở người bệnh dùng SINGULAIR (xem TÁC DỤNG PHỤ). Vì có các yếu tố khác có thể góp phần vào các tác dụng này, nên vẫn chưa biết rõ liệu các tác dụng này có liên quan đến SINGULAIR hay không. Bác sĩ nên thảo luận các tác dụng bất lợi này với người bệnh và/hoặc người chăm sóc bệnh nhân. Nên chỉ dẫn người bệnh và/hoặc người chăm sóc bệnh nhân việc thông báo cho bác sĩ biết nếu các tác dụng này xảy ra.

Ở một số hiếm trường hợp người bệnh dùng các thuốc chống hen khác, bao gồm các thuốc đối kháng thụ thể leukotriene đã trải qua một hoặc một số hiện tượng sau: tăng bạch cầu ưa eosin, phát ban kiểu viêm mạch, triệu chứng hô hấp xấu đi, biến chứng tim và/hoặc bệnh thần kinh có khi chẩn đoán là hội chứng Churg – Strauss, là viêm mạch hệ thống có tăng bạch cầu ưa eosin. Các trường hợp này đôi khi có liên quan tới sự giảm hoặc ngừng liệu pháp corticosteroid. Mặc dù chưa xác định được sự liên quan nhân quả với các chất đối kháng thụ thể leukotriene, cần thận trọng và theo dõi chặt chẽ lâm sàng khi dùng SINGULAIR.

Tác dụng không mong muốn (Tác dụng phụ)

Nói chung SINGULAIR dung nạp tốt. Các tác dụng ngoại ý thường nhẹ và thường không cần ngừng thuốc. Tỷ lệ chung của các tác dụng ngoại ý của SINGULAIR tương đương với nhóm placebo.Người lớn từ 15 năm tuổi trở lên bị hen

Đã đánh giá SINGULAIR trên khoảng 2600 người bệnh người lớn bị hen, từ 15 tuổi trở lên trong các nghiên cứu lâm sàng. Trong hai nghiên cứu giống nhau, thử nghiệm lâm sàng có đối chứng với placebo trong 12 tuần, tác dụng ngoại ý liên quan tới thuốc ở ≥ 1% người bệnh dùng SINGULAIR và có tỷ lệ cao hơn so với nhóm placebo chỉ là đau bụng và nhức đầu. Tỷ lệ các hiện tượng này không khác biệt có ý nghĩa thống kê khi so sánh hai nhóm điều trị.Tổng cộng trong các thử nghiệm lâm sàng có 544 người bệnh được điều trị bằng SINGULAIR ít nhất là 6 tháng, 253 người cho tới một năm và 21 người cho tới 2 năm. Trên các trường hợp điều trị kéo dài, kinh nghiệm về các tác dụng ngoại ý được ghi nhận không có gì thay đổi.Trẻ em từ 6 tuổi đến 14 tuổi bị hen

Đánh giá SINGULAIR trên khoảng 475 bệnh nhi bị hen, từ 6 tuổi tới 14 tuổi cho thấy độ an toàn của thuốc ở những bệnh nhi nói chung tương tự như ở nhóm người lớn dùng thuốc và placebo.Trong thử nghiệm lâm sàng 8 tuần có đối chứng placebo, tác dụng ngoại ý liên quan đến thuốc được ghi nhận ở > 1% người bệnh dùng SINGULAIR và có tỷ lệ cao hơn so với nhóm placebo chỉ là nhức đầu. Tỷ lệ nhức đầu không có khác biệt có ý nghĩa thống kê khi so sánh hai nhóm điều trị.Trong các nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng lên sự tăng trưởng, thuộc tính an toàn trên các bệnh nhi này cũng tương tự như thuộc tính an toàn đã được mô tả trước đây của SINGULAIR.Tổng cộng trong các thử nghiệm lâm sàng có 263 bệnh nhi từ 6 tuổi đến 14 tuổi được điều trị bằng SINGULAIR ít nhất là 3 tháng, 164 trẻ cho tớii 6 tháng trở lên. Trên các trường hợp điều trị kéo dài, kinh nghiệm về các tác dụng ngoại ý được ghi nhận không có gì thay đổi.Trẻ em từ 2 tuổi đến 5 tuổi bị hen

SINGULAIR được đánh giá trên 573 bệnh nhi bị hen, từ 2 tuổi đến 5 tuổi. Trong thử nghiệm lâm sàng 12 tuần có đối chứng placebo, tác dụng ngoại ý liên quan đến thuốc được ghi nhận ở > 1% bệnh nhi dùng SINGULAIR và có tỷ lệ cao hơn so với nhóm placebo chỉ là khát. Tỷ lệ khát không có khác biệt có ý nghĩa thống kê khi so sánh hai nhóm điều trị.Tổng cộng có 426 bệnh nhi bị hen, từ 2 tuổi đến 5 tuổi dùng SINGULAIR kéo dài ít nhất 3 tháng, 230 bệnh nhi dùng kéo dài trên 6 tháng, 63 bệnh nhi dùng kéo dài trên 12 tháng. Khi điều trị kéo dài, kinh nghiệm về các tác dụng ngoại ý được ghi nhận không có gì thay đổi.Trẻ em từ 6 tháng đến 2 tuổi bị hen

SINGULAIR được đánh giá trên 175 bệnh nhi bị hen, từ 6 tháng tuổi đến 2 năm tuổi. Trong thử nghiệm làm sàng 6 tuần có đối chứng placebo, tác dụng ngoại ý liên quan đến thuốc được ghi nhận ở > 1% bệnh nhân dùng SINGULAIR và có tỷ lệ cao hơn so với nhóm placebo là tiêu chảy, tăng kích động, hen, viêm da thể chàm và phát ban. Tỷ lệ các phản ứng này không có khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm điều trị.Người lớn từ 15 năm tuổi trở lên bị viêm mũi dị ứng theo mùa

Đã có nghiên cứu đánh giá SINGULAIR trên 2199 người bệnh trên 15 tuổi để điều trị viêm mũi dị ứng theo mùa trong các nghiên cứu lâm sàng. Dùng SINGULAIR một lần mỗi ngày vào buổi sáng hoặc buổi chiều thường dung nạp tốt với thuộc tính an toàn tương đương với nhóm placebo. Trong các nghiên cứu lâm sàng đối chứng với placebo, các tác dụng ngoại ý không liên quan đến thuốc được ghi nhận ở ≥ 1% người bệnh dùng SINGULAIR và có tỷ lệ cao hơn so với nhóm placebo. Trong nghiên cứu 4 tuần có đối chứng placebo trên lâm sàng, độ an toàn phù hợp như ở các nghiên cứu kéo dài 2 tuần. Trong mọi nghiên cứu, tỷ lệ buồn ngủ tương tự như ở nhóm placebo.Trẻ em từ 2 tuổi đến 14 tuổi bị viêm mũi dị ứng theo mùa

Đã có nghiên cứu đánh giá SINGULAIR trên 280 bệnh nhi 2 – 14 năm tuổi để điều trị viêm mũi dị ứng theo mùa trong các nghiên cứu lâm sàng có đối chứng placebo trong 2 tuần. Dùng SINGULAIR một lần mỗi ngày vào buổi sáng hoặc buổi chiều thường dung nạp tốt với thuộc tính an toàn tương đương với nhóm placebo. Trong nghiên cứu này, các tác dụng ngoại ý không liên quan đến thuốc được ghi nhận ở ≥ 1% người bệnh dùng SINGULAIR và có tỷ lệ cao hơn so với nhóm placebo.Người lớn từ 15 tuổi trở lên bị viêm mũi dị ứng quanh năm

Đã có hai nghiên cứu đánh giá SINGULAIR trên 3235 người lớn và vị thành niên trên 15 tuổi bị viêm mũi dị ứng quanh năm trong 6 tuần, đối chứng placebo. Dùng SINGULAIR mỗi ngày một lần nói chung dung nạp tốt, độ an toàn ở nhóm người bệnh dùng thuốc tương đương với nhóm placebo. Trong hai nghiên cứu này, các tác dụng ngoại ý không liên quan đến thuốc được ghi nhận ở ≥ 1% người bệnh dùng SINGULAIR và có tỷ lệ cao hơn so với nhóm placebo. Tỷ lệ buồn ngủ tương tự như ở nhóm placebo.Phân tích tổng hợp từ kinh nghiệm thử nghiệm lâm sàng

Đã tiến hành phân tích tổng hợp 41 thử nghiệm lâm sàng có đối chứng placebo (gồm 35 nghiên cứu ở người bệnh ≥ 15 tuổi và 6 nghiên cứu ở bệnh nhi 6 – 14 tuổi) bằng phương pháp đánh giá phù hợp về tình trạng tự tử. Trong số 9929 người bệnh dùng SINGULAIR và 7780 người bệnh dùng placebo trong các nghiên cứu này, chỉ có 1 bệnh nhân có ý tưởng tự tử ở nhóm dùng SINGULAIR. Không có các trường hợp nào đã tiến hành tự sát hoặc mưu tính tự tử hoặc có các hành động chuẩn bị hướng đến hành vi tự tử ở cả hai nhóm điều trị.Đã tiến hành một phân tích tổng hợp riêng rẽ khác từ 46 thử nghiệm lâm sàng có đối chứng placebo (35 nghiên cứu ở người bệnh ≥ 15 tuổi, 11 nghiên cứu ở bệnh nhi từ 3 tháng đến 14 tuổi) đánh giá các tác dụng bất lợi liên quan đến hành vi; 11 nghiên cứu ở bệnh nhi từ 3 đến 14 tuổi để đánh giá các tác dụng bất lợi liên quan đến hành vi (BRAE). Trong số 11.673 người bệnh dùng SINGULAIR và 8.827 người bệnh dùng placebo ở các nghiên cứu này, tỷ lệ bệnh nhân có ít nhất 1 BRAE ở nhóm dùng SINGULAIR và placebo lần lượt là 2.73% và 2.27%; với tỉ số chênh là 1.12 (95% Cl [0.93; 1.36]). Các thử nghiệm lâm sàng trong các phân tích tổng hợp này không phải được thiết kế chuyên biệt để đánh gia hành vi tự tử hoặc BRAE.Kinh nghiệm sau khi đưa thuốc ra thị trường

Có thêm những tác dụng ngoại ý sau đây khi đưa thuốc ra thị trường:Các bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh trùng: viêm đường hô hấp trênRối loạn máu và hệ bạch huyết: tăng xu hướng chảy máu, giảm tiểu cầu.Rối loạn hệ miễn dịch: các phản ứng quá mẫn bao gồm phản vệ, rất hiếm gặp gan thâm nhiễm bạch cầu ưa eosin.Rối loạn tâm thần: kích động bao gồm hành động hung hăng hoặc chống đối, lo âu, trầm cảm, mất phương hướng, rối loạn chú ý, mộng mị bất thường, ảo giác, mất ngủ, suy giảm trí nhớ, tâm thần – vận động hiếu động thái quá (bao gồm dễ kích động, bồn chồn không yên, rung cơ), mộng du, có ý nghĩ và hành vi tự tử.Rối loạn hệ thần kinh: chóng mặt, buồn ngủ, dị cảm (cảm giác bất thường)/giảm cảm giác, rất hiếm gặp co giật.Rối loạn tim: đánh trống ngực.Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất: chảy máu mũi, bệnh phổi tăng bạch cầu ái toan.Rối loạn dạ dày ruột: tiêu chảy, chán ăn, buồn nôn, nôn.Rối loạn gan mật: tăng ALT và AST, rất hiếm khi viêm gan (bao gồm viêm gan ứ mật, viêm tế bào gan, và tổn thương gan nhiều thành phần)Rối loạn da và mô dưới da: phù mạch, bầm tím, hồng ban đa dạng, ban đỏ nốt, ngứa, phát ban, mề đay.Rối loạn cơ xương và mô liên kết: đau khớp, đau cơ bao gồm chuột rút.Rối loạn thận và tiết niệu: đái dầm ở trẻ emRối loạn toàn thân và tình trạng tại chỗ dùng thuốc: suy nhược/mệt mỏi, phù, sốt.BÁO NGAY CHO BÁC SĨ HOẶC DƯỢC SĨ CỦA BẠN NẾU CÓ BẤT KỲ TRIỆU CHỨNG NÀO Ở TRÊN HAY KHÁC NỮA.

Tương tác với các thuốc khác

Có thể dùng SINGULAIR với các thuốc thường dùng khác trong dự phòng và điều trị mạn tính bệnh hen và điều trị viêm mũi dị ứng. Trong các nghiên cứu về tương tác thuốc, thấy liều khuyến cáo trong điều trị của montelukast không có ảnh hưởng đáng kể tới dược động học của các thuốc sau: theophylline, prednisone, prednisolone, thuốc uống ngừa thai (ethinyl estradiol/norethindrone 35/1), terfenadine, digoxin và warfarin.Diện tích dưới đường cong (AUC) của montelukast giảm khoảng 40% ở người cùng dùng phenobarbital. Không cần điều chỉnh liều lượng SINGULAIR.Các nghiên cứu in vitro cho thấy montelukast là chất ức chế CYP 2C8. Tuy nhiên dữ liệu từ các nghiên cứu tương tác thuốc với nhau trên lâm sàng của montelukast và rosiglitazone (là cơ chất đại diện cho các thuốc được chuyển hóa chủ yếu bởi CYP2C8) lại cho thấy montelukast không ức chế CYP2C8 in vivo. Do đó, montelukast không làm thay đổi quá trình chuyển hóa của các thuốc được chuyển hóa chủ yếu qua enzyme này (ví dụ như paclitaxel, rosiglitazone, repaglinide).Các nghiên cứu in vitro cho thấy montelukast là một cơ chất của CYP 2C8, 2C9 và 3A4. Dữ liệu từ một nghiên cứu tương tác thuốc – thuốc trên lâm sàng với sự tham gia của montelukast va gemfibrozil (một chất ức chế cả CYP 2C8 và 2C9) cho thấy gemfibrozil tăng mức tiếp xúc toàn thân của montelukast lên 4.4 lần. Dùng đồng thời itraconazole, một chất ức chế mạnh CYP 3A4 với gemfibrozil và montelukast không làm tăng thêm mức tiếp xúc toàn thân của montelukast. Ảnh hưởng của gemfibrozil lên mức tiếp xúc toàn thân của montelukast không được xem là có ý nghĩa lâm sàng dựa trên dữ liệu an toàn lâm sàng với liều dùng lớn hơn 10mg được phê duyệt cho người lớn (200mg/ngày ở bệnh nhân người lớn trong 22 tuần và lên tới 900mg/ngày trong gần một tuần), không quan sát thấy các tác dụng không mong muốn có ý nghĩa lâm sàng. Do vậy, không cần điều chỉnh liều montelukast ở bệnh nhân dùng đồng thời với gemfibrozil. Dựa trên dữ liệu in vitro, những tương tác thuốc quan trọng về mặt lâm sàng với các thuốc ức chế CYP 2C8 đã biết (như trimethoprim) không được dự đoán trước. Thêm vào đó, dùng đồng thời montelukast với một mình itraconazole không làm tăng đáng kể mức tiếp xúc toàn thân của montelukast.

Bảo quản

Bảo quản viên nhai 4mg và 5mg, gói cốm hạt 4mg dưới 30°C (86°F), tránh ẩm và tránh ánh sáng.

Lái xe

Chưa có cơ sở chứng minh SINGULAIR có ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy.

Thai kỳ

Mang thaiChưa nghiên cứu SINGULAIR ở người mang thai. Chỉ dùng SINGULAIR khi mang thai khi thật cần thiết. Trong quá trình lưu hành sản phẩm trên thị trường, đã có báo cáo hiếm gặp các trường hợp bị khuyết tật chi bẩm sinh ở con của các bà mẹ sử dụng SINGULAIR khi mang thai. Phần lớn các bà mẹ này cũng dùng kèm theo các thuốc trị hen khác trong quá trình mang thai. Mọi liên hệ nhân quả của các biến cố này với việc sử dụng SINGULAIR chưa được xác lập.Cho con búChưa rõ sự bài tiết của SINGULAIR qua sữa mẹ. Vì nhiều thuốc này có thể bài tiết qua sữa mẹ, nên người mẹ cần thận trọng khi dùng SINGULAIR trong thời kỳ cho con bú.

Đóng gói

Mỗi viên nén bao phim SINGULAIR 10mg để uống chứa 10.4mg natri montelukast, đóng trong vỉ chứa 7 viên. Mỗi hộp chứa 4 vỉ gồm 28 viên.Mỗi viên nhai SINGULAIR 5mg để uống chứa 5.2mg natri montelukast, đóng trong vỉ chứa 7 viên. Mỗi hộp chứa 4 vỉ gồm 28 viên.Mỗi viên nhai SINGULAIR 4mg để uống chứa 4.2mg natri montelukast, đóng trong vỉ chứa 7 viên. Mỗi hộp chứa 4 vỉ gồm 28 viên.Mỗi gói cốm hạt SINGULAIR 4mg để uống chứa 4.2mg natri montelukast, đóng trong hộp chứa 7 hoặc 28 gói.

Hạn dùng

Hạn dùng của viên nhai SINGULAIR 4mg và 5mg là 24 tháng kể từ ngày sản xuất.

Quá liều

Không có thông tin đặc hiệu về việc điều trị khi dùng quá liều SINGULAIR. Trong các nghiên cứu về hen mạn tính, SINGULAIR được dùng tới các liều mỗi ngày tới 200mg cho người lớn trong 22 tuần và nghiên cứu ngắn ngày với liều tới 900mg mỗi ngày, dùng trong khoảng một tuần, không thấy có phản ứng quan trọng trên lâm sàng.Cũng có những báo cáo về ngộ độc cấp sau khi đưa thuốc ra thị trường và trong các nghiên cứu lâm sàng với SINGULAIR. Các báo cáo này bao gồm cả ở trẻ em và người lớn với liều cao nhất lên tới 1000mg. Những kết quả trong phòng thí nghiệm và trong lâm sàng phù hợp với tổng quan về độ an toàn ở người lớn và các bệnh nhi. Trong phần lớn các báo cáo về quá liều, không gặp các phản ứng có hại. Những phản ứng hay gặp nhất cũng tương tự như dữ liệu về thuộc tính an toàn của SINGULAIR bao gồm đau bụng, buồn ngủ, khát, đau đầu, nôn và tăng kích động.Chưa rõ montelukast có thể thẩm tách được qua màng bụng hay lọc máu.

Dược lực học

Các cysteinyl leukotriene (LTC4, LTD4, LTE4), là những eicosanoid có tiềm năng gây viêm mạnh, được tiết ra từ nhiều loại tế bào, bao gồm tế bào hạt và bạch cầu ưa eosin. Các chất trung gian quan trọng tiền hen này được gắn vào các thụ thể cysteinyl leukotriene (CysLT1). Các thụ thể CysLT týp 1 (CysLT1,) được tìm thấy trong đường thở của người, bao gồm các tế bào cơ trơn và đại thực bào của đường thở và trong các tế bào tiền viêm khác (bao gồm bạch cầu ưa eosin và một số tế bào gốc tủy xương). CysLT có liên quan với cơ chế sinh bệnh của hen và viêm mũi dị ứng. Trong bệnh hen, các tác dụng qua trung gian của leukotriene bao gồm một số tác dụng lên đường thở, như làm co thắt phế quản, tiết chất nhầy, tăng tính thấm mao mạch và huy động bạch cầu ưa eosin. Trong viêm mũi dị ứng, CysLT được tiết từ niêm mạc mũi sau khi tiếp xúc với dị nguyên trong các phản ứng ở các pha nhanh và chậm và có liên quan tới các triệu chứng viêm mũi dị ứng. CysLT trong mũi sẽ làm tăng sự cản trở đường thở và các triệu chứng tắc nghẽn ở mũi.Montelukast dạng uống là chất có tính chống viêm, cải thiện được các thông số về viêm trong hen. Dựa vào các thử nghiệm về hóa sinh và dược lý, montelukast chứng tỏ có ái lực cao và có độ chọn lọc với thụ thể CysLT (tác dụng này trội hơn ở các thụ thể khác cũng quan trọng về dược lý, như các thụ thể prostanoid, cholinergic hoặc β-adrenergic). Montelukast ức chế mạnh các tác dụng sinh lý của LTC4, LTD4, LTE4 tại thụ thể CysLT1 mà không hề có tác dụng chủ vận.Ở bệnh nhân hen, montelukast ức chế các thụ thể cysteinyl leucotriene ở đường thở chứng minh qua khả năng ức chế sự co thắt phế quản do hít LTD4. Với các liều dưới 5mg đã phong bế được sự co thắt phế quản do LTD4. Montelukast gây giãn phế quản trong 2 giờ sau khi uống; những tác dụng này hiệp đồng với sự giãn phế quản nhờ dùng chất chủ vận β.Nghiên cứu lâm sàng trong henTrong các nghiên cứu lâm sàng, SINGULAIR có hiệu lực ở người bệnh người lớn và trẻ em để ngăn ngừa và điều trị hen mạn tính, bao gồm ngăn ngừa sự co thắt phế quản do tập luyện. SINGULAIR có hiệu lực khi dùng riêng rẽ hoặc khi phối hợp với các thuốc khác trong chỉ định duy trì để điều trị hen mạn tính. Có thể phối hợp SINGULAIR với corticosteroid dạng hít, sẽ có tác dụng hiệp đồng để kiểm soát hen hoặc để giảm bớt liều lượng corticosteroid hít trong khi duy trì sự ổn định lâm sàng.Người từ 15 tuổi trở lênTrong hai nghiên cứu mù kép, kéo dài 12 tuần, có đối chứng placebo, được thiết kế tương tự nhau, ở người bệnh từ 15 tuổi trở lên bị hen, dùng SINGULAIR uống mỗi ngày 1 lần một liều 10mg vào buổi tối, cho thấy có cải thiện rõ rệt về các thông số kiểm soát hen đo đạc qua các triệu chứng hen, hậu quả do hen, chức năng hô hấp và “nhu cầu” sử dụng chất chủ vận β.SINGULAIR cải thiện rõ rệt các triệu chứng ban ngày qua báo cáo của người bệnh và sự thức giấc ban đêm, so sánh với placebo. Hậu quả đặc hiệu của hen, bao gồm xuất hiện các cơn hen, cần sự trợ giúp của corticosteroid, ngừng thuốc do cơn hen nặng hơn, cơn kịch phát hen và số ngày thoát khỏi hen đều được cải thiện rõ so với placebo. Những đánh giá tổng quát của bác sỹ và người bệnh về hen, cũng như các đánh giá về chất lượng sống đặc hiệu với bệnh hen (trong mọi lĩnh vực, bao gồm hoạt động bình thường hàng ngày và các triệu chứng hen) đều tốt hơn rõ rệt so với ở nhóm chứng. SINGULAIR cải thiện rõ rệt thể tích thở ra gắng sức trong giây đầu tiên vào buổi sáng (FEV1), tốc độ thở ra tối đa buổi sáng và buổi chiều (PEFR) và cũng làm giảm một cách có ý nghĩa nhu cầu thuốc chủ vận β khi so sánh với placebo.Hiệu quả điều trị thường đạt được sau liều đầu tiên và duy trì trong khoảng 24 giờ. Hiệu quả điều trị cũng ổn định khi dùng liên tục mỗi ngày 1 lần trong các thử nghiệm kéo dài tới 1 năm. Ngừng thuốc sau khi dùng SINGULAIR 12 tuần không gây phản ứng dội ngược làm bệnh hen nặng thêm.So sánh với beclomethasone dạng hít (mỗi lần 200μg, 2 lần mỗi ngày bằng dụng cụ khuếch tán), thấy SINGULAIR có đáp ứng ban đầu nhanh hơn, mặc dù qua nghiên cứu kéo dài 12 tuần, beclomethasone có tác dụng điều trị trung bình lớn hơn. Tuy nhiên, nhóm dùng SINGULAIR có tỷ lệ phần trăm cao đạt được đáp ứng lâm sàng tương đương beclomethasone dạng hít.Trẻ em từ 6 tuổi đến 14 tuổiTrẻ em 6 – 14 năm tuổi, dùng một viên nhai 5mg vào buổi tối làm giảm rõ rệt cơn kịch phát hen, cải thiện sự đánh giá chất lượng sống đặc hiệu do hen, so sánh với placebo. SINGULAIR cũng cải thiện rõ rệt FEV1 buổi sáng, làm giảm tổng “nhu cầu” liều trong ngày của chất chủ vận β. Hiệu quả điều trị đạt được sau liều đầu tiên và ổn định tới 6 tháng dùng liên tục mỗi ngày một lần.Sự tăng trưởng ở bệnh nhi mắc bệnh henHai nghiên cứu lâm sàng có đối chứng cho thấy montelukast không ảnh hưởng lên khả năng phát triển cơ thể ở bệnh nhi trước khi dậy thì mắc bệnh hen. Trong một nghiên cứu trên trẻ em từ 6 tuổi đến 11 tuổi, sự phát triển cơ thể được đánh giá bằng sự phát triển chiều dài cẳng chân, nhóm dùng montelukast 5mg mỗi ngày một lần trong 3 tuần kết quả cũng tương tự như nhóm dùng giả dược, và ở nhóm dùng budesonide dạng khí dung (200μg mỗi ngày hai lần) trong 3 tuần thì thấp hơn một cách có ý nghĩa thống kê so với nhóm dùng giả dược. Trong một nghiên cứu kéo dài 56 tuần ở trẻ em từ 6 đến 8 năm tuổi, biểu đồ phát triển ở trẻ dùng montelukast 5mg mỗi ngày một lần tương tự như nhóm dùng giả dược (giá trị LS trung bình cho montelukast và giả dược tương ứng là: 5.67 và 5.64cm/năm), và ở nhóm dùng beclomethasone khí dung (200μg mỗi ngày hai lần) thì trị số này thấp hơn một cách có ý nghĩa (giá trị LS trung bình: 4.86cm/năm) ở bệnh nhi dùng khí dung, so với nhóm dùng giả dược [khác biệt giá trị trung bình LS (với độ tin cậy 95%) là: -0.78 (-1.06; -0.49)cm/năm]. Cả hai montelukast và beclomethasone đều cho lợi ích lâm sàng trong điều trị các bệnh nhân hen nhẹ một cách có ý nghĩa so với nhóm dùng giả dược.Trẻ em từ 6 tháng tới 5 năm tuổiTrong nghiên cứu 12 tuần, đối chứng placebo ở trẻ em 2 – 5 tuổi, cho uống SINGULAIR mỗi ngày một lần 4mg, đã cải thiện vững bền các thông số kiểm soát hen, không phụ thuộc vào điều trị phối hợp với thuốc ngừa hen, so sánh với placebo. 60% người bệnh không dùng cách điều trị kiểm soát hen khác. SINGULAIR cải thiện rõ các triệu chứng ban ngày (bao gồm ho, khò khè, rối loạn về thở và hạn chế hoạt động) và các triệu chứng ban đêm khi so sánh với placebo. SINGULAIR cũng làm giảm rõ rệt “nhu cầu” thuốc chủ vận β, corticosteroid cấp cứu so với placebo. Người bệnh dùng SINGULAIR có ngày hết hen nhiều hơn một cách có ý nghĩa thống kê so với người bệnh ở nhóm placebo. Hiệu lực điều trị thấy ngay sau liều đầu tiên. Thêm nữa, số lượng bạch cầu ưa eosin trong máu toàn phần cũng giảm rõ rệt.Hiệu lực của SINGULAIR ở trẻ em tử 6 tháng tuổi tới 2 năm tuổi được ngoại suy từ kết quả ở bệnh nhi trên 2 năm tuổi bị hen và dựa vào các dữ liệu dược động học tương tự cũng như vào liệu trình, sinh lý bệnh học và tác dụng của thuốc về cơ bản tương đương khi so sánh 2 nhóm tuổi trên đây.Với người bệnh dùng phối hợp corticosteroid dạng hítNhững nghiên cứu riêng rẽ ở người lớn cho thấy khả năng SINGULAIR dùng phối hợp với corticosteroid dạng hít có tác dụng hiệp đồng trong lâm sàng và cho phép giảm liều steroid khi dùng phối hợp. Trong nghiên cứu có đối chứng placebo, người bệnh khởi đầu dùng corticosteroid dạng hít với liều khoảng 1600μg mỗi ngày, trong giai đoạn sử dụng placebo đã giảm được tỷ lệ sử dụng steroid khoảng 37%. Hơn nữa, SINGULAIR còn giúp giảm 47% liều corticosteroid dạng hít so với 30% ở nhóm dùng placebo. Trong một nghiên cứu khác, SINGULAIR đem lại lợi ích lâm sàng cộng thêm trên các đối tượng được duy trì nhưng không kiểm soát được thích đáng với corticosteroid dạng hít (mỗi ngày dùng 400μg beclomethasone). Ngừng hoàn toàn và đột ngột beclomethasone ở người bệnh dùng phối hợp SINGULAIR với beclomethasone gây tác hại về lâm sàng ở một số trường hợp, chứng tỏ nên ngừng thuốc dần dần theo mức dung nạp hơn là ngừng đột ngột. Với người bệnh mẫn cảm với aspirin, hầu hết trong số đó là khi phối hợp corticosteroid với dạng hít và uống, SINGULAIR đã có cải thiện đáng kể về các thông số kiểm soát hen.Với người bệnh co thắt phế quản do gắng sứcSINGULAIR mỗi ngày uống một lần 10mg sẽ ngăn ngừa được sự co thắt phế quản do gắng sức ở người từ 15 tuổi trở lên. Trong nghiên cứu 12 tuần, SINGULAIR cho thấy ức chế rõ rệt mức độ và thời gian giảm sút FEV1 hơn 60 phút sau gắng sức, phần trăm giảm FEV1, tối đa sau gắng sức và thời gian hồi phục 5% của FEV1, trước khi gắng sức. Hiệu quả bảo vệ này là hằng định xuyên suốt quá trình điều trị, chứng tỏ không có tình trạng quen thuốc, trong một nghiên cứu bắt chéo riêng biệt, thấy tác dụng bảo vệ này đạt được sau 2 ngày dùng thuốc, mỗi ngày uống một lần. Với bệnh nhi 6 – 14 tuổi, cho uống viên nhai 5mg, trong một nghiên cứu bắt chéo tương tự, cũng thấy có tác dụng bảo vệ như ở người lớn và sự bảo vệ này được duy trì suốt khoảng cách liều (24 giờ).Tác dụng trên viêm trong henTrong các nghiên cứu lâm sàng, SINGULAIR được chứng minh ức chế cả sự co thắt phế quản ở pha sớm và pha muộn do dị nguyên. Vì sự thâm nhiễm tế bào viêm (bạch cầu ưa eosin) là đặc trưng quan trọng của bệnh hen, nên đã có khảo sát ảnh hưởng của SINGULAIR lên bạch cầu ưa eosin ở máu ngoại biên và ở đường thở. Trong các nghiên cứu lâm sàng ở pha IIb/III, SINGULAIR cho thấy làm giảm rõ rệt các bạch cầu ưa eosin ở máu ngoại biên, giảm 15% so với khởi điểm và so với placebo. Ở bệnh nhi từ 6 đến 14 tuổi SINGULAIR làm giảm bạch cầu ưa eosin ở máu ngoại biên 13% qua 8 tuần điều trị so với nhóm placebo. SINGULAIR cũng làm giảm rõ rệt bạch cầu ưa eosin ở đường thở, trong đờm so với nhóm placebo. Trong nghiên cứu này, lượng bạch cầu ưa eosin ở máu ngoại biên giảm và tiêu chí đánh giá lâm sàng về hen cải thiện trong nhóm điều trị với SINGULAIR.Nghiên cứu lâm sàng – viêm mũi dị ứngHiệu lực của SINGULAIR trong điều trị viêm mũi dị ứng theo mùa được nghiên cứu trong các thử nghiệm tương tự ngẫu nhiên, mù kép, kéo dài 2 tuần, có đối chứng placebo, trên 4924 người bệnh (có 1751 người dùng SINGULAIR). Những người bệnh từ 15 tuổi trở lên, có tiền sử viêm mũi dị ứng theo mùa, xét nghiệm ngoài da dương tính trong ít nhất một mùa gặp dị nguyên và có những triệu chứng rõ rệt về viêm mũi dị ứng theo mùa vào lúc khởi đầu công trình nghiên cứu.Trong một phân tích phối hợp của 3 nghiên cứu chủ chốt, sử dụng viên nén 10mg SINGULAIR cho 1189 người bệnh (mỗi ngày 1 lần vào buổi tối) làm cải thiện rõ rệt các tiêu chí chính, chỉ số các triệu chứng ở mũi lúc ban ngày và các biểu hiện lâm sàng (như xung huyết mũi, chảy nước mũi, ngứa mũi, hắt hơi); chỉ số các triệu chứng ban đêm (như xung huyết mũi khi thức, khó ngủ, thức giấc nhiều lần ban đêm); chỉ số tổng hợp các triệu chứng (bao gòm cả hai chỉ số triệu chứng mũi ban ngày và ban đêm); và qua đánh giả tổng quát của người bệnh và bác sỹ về viêm mủi dị ứng so với placebo.Trong một nghiên cứu khác kéo dài 4 tuần, SINGULAIR mỗi ngày 1 lần vào buổi sáng cho thấy hiệu lực trong 2 tuần đầu mạnh hơn rõ rệt so với placebo và phù hợp với hiệu lực đạt được trong các nghiên cứu dùng liều vào buổi tối. Hơn nữa, hiệu lực qua toàn bộ 4 tuần cũng nhất quán với các kết quả của 2 tuần.Với người bệnh trên 15 tuổi bị viêm mũi dị ứng theo mùa, SINGULAIR cho thấy làm giảm trung bình 13% lượng bạch cầu ưa eosin trong máu ngoại biên so với placebo, qua các thời kỳ điều trị mù kép.Hiệu lực của SINGULAIR điều trị viêm mũi dị ứng quanh năm được nghiên cứu trong hai nghiên cứu có đối chứng placebo, thiết kế tương tự, chia nhóm ngẫu nhiên, mù kép kéo dài 6 tuần, trên 3235 người bệnh (trong đó 1632 người dùng SINGULAIR). Tuổi người bệnh là 15 – 82 tuổi có tiền sử viêm mũi dị ứng quanh năm, xét nghiệm da kết quả dương tính do dị nguyên quanh năm (bao gồm dị nguyên bụi nhà, lông súc vật, bào tử mốc) và có các triệu chứng nổi bật về viêm mũi dị ứng quanh năm khi khởi đầu điều trị.Trong một nghiên cứu, SINGULAIR 10mg sử dụng 1 lần mỗi ngày cho 1000 bệnh nhân đựơc chứng minh cải thiện rõ rệt về tiêu chí chính, các chỉ số về triệu chứng ở mũi ban ngày (xung huyết mũi, chảy nước mũi, hắt hơi) so với placebo. SINGULAIR cũng cho thấy cải thiện viêm mũi dị ứng qua đánh giá của bệnh nhân như nêu trong tiêu chí phụ về Đánh Giá Toàn Cầu triệu chứng Viêm Mũi Dị Ứng bởi Bệnh Nhân, và thang điểm đánh giá chung Chất Lượng Cuộc Sống Trong Bệnh Viêm Kết Mạc – Mũi (trung bình điểm số của 7 lĩnh vực hoạt động: giấc ngủ, các triệu chứng không – mũi/không – mắt, các vấn đề trong thực hành, các triệu chứng ở mũi, các triệu chứng ở mắt, cảm xúc) so sánh với placebo.Hiệu lực của SINGULAIR trong điều trị viêm mũi dị ứng theo mùa ở bệnh nhi 2 – 14 tuổi và trong điều trị viêm mũi dị ứng quanh năm ở bệnh nhi 6 tháng – 14 tuổi được chứng minh bằng cách ngoại suy từ hiệu lực của thuốc này ở người bệnh ≥ 15 tuổi bị viêm mũi dị ứng cùng với giả định là diễn biến bệnh, bệnh học và tác dụng của thuốc về cơ bản đều giống nhau ở các quần thể này.

Dược động học

Hấp thuSau khi uống, montelukast hấp thu nhanh và hầu như hoàn toàn. Với viên nén bao phim 10mg, nồng độ Cmax đạt được 3 giờ (Tmax) sau uống đối với người lớn, uống thuốc lúc bụng đói. Sinh khả dụng khi dùng thuốc đường uống là 64%. Sinh khả dụng và Cmax không bị ảnh hưởng bởi bữa ăn chuẩn. Với viên nén nhai 5mg, Cmax đạt 2 giờ sau khi người lớn uống lúc đói. Sinh khả dụng khi uống là 37%. Thức ăn không có ảnh hưởng lớn trong lâm sàng khi dùng thuốc dài ngày.Với viên nén nhai 4mg, nồng độ Cmax đạt được 2 giờ sau uống đối với bệnh nhi 2 – 5 tuổi, uống thuốc lúc đói.Dạng cốm uống 4mg có tương đương sinh học với viên nén nhai 4mg khi dùng cho người lớn lúc đói. Việc dùng montelukast dạng cốm hạt chung với nước sốt táo hoặc trong bữa ăn chuẩn không gây ảnh hưởng lâm sàng đáng kể nào tới dược động học của thuốc xác định bởi diện tích dưới đường cong AUC (1225.7 so với 1223.1ng – giờ/mL có hoặc không có kèm nước sốt táo và 1191.8 so với 1148.5 ng – giờ/mL có hoặc không có kèm bữa ăn chuẩn).Hiệu lực và độ an toàn đã được chứng minh qua các nghiên cứu lâm sàng, khi dùng viên nén nhai 4mg, viên nén nhai 5mg, viên nén bao phim 10mg, uống không tính đến thời gian bữa ăn. Độ an toàn của SINGULAIR cũng được chứng minh được trong nghiên cứu lâm sàng đối với uống dạng cốm hạt 4mg mà không tính đến thời gian bữa ăn.Phân bốHơn 99% Montelukast gắn kết với protein huyết tương. Thể tích phân bố (Vd) trong trạng thái ổn định của montelukast là 8 – 11 lít. Nghiên cứu trên chuột cống với montelukast đánh dấu cho thấy thuốc rất ít phân bố qua hàng rào máu não. Hơn nữa, nồng độ của chất đánh dấu sau khi uống 24 giờ là tối thiểu trong mọi mô khác.Sinh chuyển hóaMontelukast chuyển hóa rất mạnh. Trong các nghiên cứu với liều điều trị, các nồng độ trong huyết tương của các chất chuyển hóa của montelukast không tìm thấy được trong trạng thái ổn định ở người lớn và trẻ em.Nghiên cứu in vitro, sử dụng microsome gan người, cho thấy cytochrome P450 3A4 và 2C9 làm xúc tác cho chuyển hóa của montelukast. Dựa vào các kết quả khác in vitro trên microsome gan người, thấy các nồng độ điều trị của montelukast trong huyết tương không ức chế các cytochromes P450 3A4, 2C9, 1A2, 2A6, 2C19 hay 2D6.Đào thảiĐộ thanh lọc của montelukast trong huyết tương là 45mL/phút ở người lớn khỏe mạnh. Sau khi uống montelukast đánh dấu, 86% chất đánh dấu được tìm thấy trong phân của tổng cộng 5 ngày và dưới 0.2% thải qua nước tiểu. Điều này cùng với sự tính toán sinh khả dụng của montelukast dùng đường uống cho thấy montelukast và các chất chuyển hóa của thuốc được thải gần như hoàn toàn qua mật. Trong nhiều nghiên cứu, thời gian bán thải trong huyết tương của montelukast là 2.7 – 5.5 giờ ở người trẻ tuổi khỏe mạnh. Dược động học của montelukast hầu như tuyến tính. Khi uống tới liều 50mg. Không có sự khác biệt về dược động học khi uống thuốc vào buổi sáng hoặc tối. Khi uống 10mg montelukast một lần trong ngày, hầu như rất ít tích lũy chất mẹ montelukast trong huyết tương (xấp xỉ 14%).Đặc điểm người bệnhKhông cần chỉnh liều đối với bệnh nhân lớn tuổi, bệnh nhân suy thận hoặc suy gan nhẹ đến trung bình. Không có bằng chứng lâm sàng trên bệnh nhân suy gan nặng (điểm số Child – Pugh > 9).

Đặc điểm

SINGULAIR (montelukast natri) là thuốc uống, đối kháng chọn lọc trên thụ thể (receptor) của leukotriene, ức chế đặc hiệu thụ thể cysteinyl leucotrien CysLT1

Thông tin khác

NHÓM ĐIỀU TRỊ

SINGULAIR (montelukast natri) là thuốc uống, đối kháng chọn lọc trên thụ thể (receptor) của leukotriene, ức chế đặc hiệu thụ thể cysteinyl leucotrien CysLT1.

Sử dụng cho trẻ emSINGULAIR đã được nghiên cứu trên bệnh nhi từ 6 tháng đến 14 năm tuổi (xin xem thêm phần Liều lượng và Cách dùng). Chưa có nghiên cứu về tính an toàn và tính hiệu lực của thuốc trên bệnh nhi dưới 6 tháng tuổi. Các nghiên cứu cho thấy SINGULAIR không ảnh hưởng lên tỷ lệ phát triển của trẻ em.Sử dụng cho người cao tuổiTrong các nghiên cứu lâm sàng, không thấy có khác biệt gì về các thuộc tính an toàn và hiệu quả của SINGULAIR liên quan đến tuổi tác.